Toni Erdmann (2016): buồn như là phim hài

Tạm dịch: Bố Tôi Là Toni Erdmann
Nếu chiếu theo những “tiêu chuẩn” phim ảnh mang tính đại chúng, Toni Erdmann dường như không có bất cứ cơ hội nào để trở thành một lựa chọn của người xem. Có quá nhiều lý do khiến Toni Erdmann bị bỏ rơi: là một bộ phim Đức dài gần 3 tiếng đồng hồ; dàn diễn viên không đẹp dù là theo tiêu chuẩn nào, thậm chí còn được hoá trang cho xấu thêm; poster khó hiểu, thậm chí gây khó chịu cho những ai mắc hội chứng sợ lông lá.
(Phim được đề cử Oscar cho hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất, cùng với hàng chục giải thưởng lớn nhỏ khác, trong đó Phim hay nhất tại European Film Awards)

Poster đầy “lông lá” của Toni Erdmann thật ra là một khoảnh khắc đẹp
Nhưng nếu vượt qua được những rào cản tâm lý kia và xem hết phim, ta sẽ nghiệm ra hàng tá lý do để thuyết phục Toni Erdmann là một trong những phim đáng xem nhất. Đó là điều thúc đẩy mình tách Toni Erdmann ra viết riêng thành một bài dài trong chuỗi consideration.
[spoiler alert]
Nữ đạo diễn Maren Ade, người vừa làm nên lịch sử khi trở thành nữ đạo diễn đầu tiên giành giải thưởng European Film Awards, liên tục khẳng định cô không chủ đích xây dựng Toni Erdmann như một phim hài. Thế nhưng, thật lạ lùng khi chất hài của bộ phim lại được khán giả lẫn giới phê bình đón nhận nồng nhiệt. Những cây viết uy tín không tiếc lời ca ngợi Toni Erdmann, trong đó có Eric Kohn (IndieWire), người khẳng định bộ phim có một “cảnh nude hài hước nhất mọi thời đại”.
Tất cả đều nói rằng đây là một phim hài, nhưng nếu có ai muốn tìm xem Toni Erdmann chỉ để giải trí thì đừng vội. Chất hài của bộ phim thật sự rất khác những tác phẩm cùng thể loại đến từ Hollywood, hay thậm chí là khi so với những phim cùng thể loại và lẫn xuất xứ như Schlussmacher (2013).

Cảnh nude “hài hước nhưng không gợi dục” được báo chí ca ngợi
Phim kéo khán giả vào 162 phút cuộc đời của Winfried Conradi, một ông giáo dạy nhạc thích chọc cười những người xung quanh bằng cách tự làm xấu mình (ở Việt Nam hay gọi là hài hình thể). Trái ngược với cha mình, Ines – cô con gái từng rất thân thiết với ông, khi lớn lên lại càng nghiêm túc đến mức khắc kỷ, thành đạt nhưng bận rộn và mệt mỏi vì công việc. Winfried quyết định bay sang Romania, đeo răng giả tóc giả, hoá trang và tự gọi mình là Toni Erdmann để theo con gái khắp nơi, với mục đích làm cho cô trở nên vui vẻ hơn.
Toni Erdmann đúng ra là một câu chuyện buồn về sự trưởng thành, khi những đứa con rời xa vòng tay bố mẹ, đánh mất tâm hồn vô tư, yêu đời để đổi lấy sự thành đạt phù phiếm, những xã giao ngượng ngùng. “Ở góc độ nào đó, Ines cũng là một “kẻ giả trang” giống cha mình. Điểm khác biệt là bố cô giả trang để vượt thoát khỏi quy chuẩn của xã hội, còn Ines lại làm vậy để bó buộc mình vào đó. Cô dựng lên một lớp mặt nạ trong cách cư xử, chiều lòng cấp trên và kiểm soát những kẻ dưới quyền.” [1]

Tuy tạo hình không phải để đẹp, nhưng bù lại, hai diễn viên xuất thân từ kịch nghệ có sự duyên dáng và ăn ý với nhau để có những màn ứng tác như đời thật
Quay trở lại sự hài hước của Toni Erdmann, nếu phải tìm một từ nào để miêu tả, đó chắc chỉ có thể là từ “awkward”. Cũng tương tự như tiếng Đức, “awkward” không có từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, ta chỉ có thể hiểu nôm na là “ngượng ngịu một cách hài hước”, những kiểu tình huống mà ta chỉ có cười với nhau (hoặc cười một mình) chứ không biết làm gì khác. Thế thì có gì vui? Có thể kiểu hài này không vui như những kiểu khác, nhưng Toni Erdmann có sự chân thật đáng kinh ngạc. Đâu phải lúc nào tình huống ngoài đời thật cũng luôn trào lộng một cách lý tưởng. Tái hiện được những tình huống “awkward” diễn ra hằng ngày lên một bộ phim, với mình có thể coi là đỉnh cao mới của thể loại hài hước.
Là một câu chuyện hài hước nhưng buồn, Toni Erdmann mang những hàm ý mà càng hiểu, càng thấm, ta càng xúc động. Với mình, cảnh đắt giá nhất của phim không phải là cảnh nude được ca ngợi, không phải là cảnh Ines ôm chầm lấy Winfried khi đang hoá trang thành một Kukeri [2] được dùng làm poster, mà là cảnh Winfried đàn cho Ines hát ca khúc “Greatest Love Of All” của cố nghệ sỹ Whitney Houston [3]. Ngoài màn trình diễn đầy cảm xúc của Ines, ca từ của “Greatest Love Of All” cũng khẳng định toàn bộ tinh thần của bộ phim, là nguyên nhân dẫn dắt câu chuyện, là mục đích những trò ngớ ngẩn của ông bố Winfried. Đó là lời nhắc ông dành Ines về thứ “tình yêu vĩ đại nhất”. Đó không phải tình cảm cha mẹ mà ông muốn Ines hướng về phía mình, “tình yêu vĩ đại nhất” đó là khi Ines học được cách yêu bản thân, biết cách dành thời gian để sống cho riêng mình, cho những gì cô ấy hằng yêu quý.
“I found the greatest love of all
Inside of me
The greatest love of all
Is easy to achieve
Learning to love yourself” [4]
Ghi chú/tham khảo:
[2] Kukeri: linh vật có hình thù quái dị, lông lá được dùng trong nghi thức trừ tà truyền thống ở Bungary
[3] Cảnh Winfried đàn cho Ines hát: https://www.youtube.com/watch?v=lI4…
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s